Top 10 game có thưởng khi tải về - game bài đổi thưởng trực tuyến

Bước đột phá cho logistics

07:00 | 27/02/2017

1,005 lượt xem
Theo dõi PetroTimes trên
|
Trong nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, ngành logistics (chuỗi dịch vụ giao nhận, kho vận) được xem là “mạch máu” lưu thông của nền kinh tế, là cầu nối thương mại trong nước với quốc tế. Tuy nhiên, ngành logistics Việt Nam thời gian qua vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của nền kinh tế. Chính vì vậy, kế hoạch nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt được mong đợi sẽ tạo “cú hích” đột phá đưa ngành logistics vào giai đoạn phát triển mới, tạo kết nối và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh nền kinh tế. Phóng viên Báo Năng lượng Mới có cuộc trao đổi với ông Trần Thanh Hải - Phó cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) xung quanh câu chuyện này.

PV: Trước hết xin ông cho biết khái quát về ngành logistics Việt Nam?

buoc dot pha cho logistics
Ông Trần Thanh Hải

Ông Trần Thanh Hải: Nhìn vào số lượng doanh nghiệp (DN) logistics còn khá là ít, mới có khoảng 1.500 DN trong tổng số 7-8 trăm nghìn DN. Mức độ đóng góp cho nền kinh tế quốc dân của ngành cũng còn rất thấp, chỉ ở mức khoảng 3%. Tỷ lệ thuê ngoài của logistics cũng chưa cao, nhiều DN xuất nhập khẩu và sản xuất thương mại vẫn tự mình tiến hành hoạt động logistics dẫn tới hiệu quả kém.

Bên cạnh đó, cùng với tiến trình mở cửa, ngày càng có nhiều sự tham gia của các DN nước ngoài vào thị trường logistics của Việt Nam và thường là các DN lớn như các hãng tàu biển, hãng hàng không, chuyển phát nhanh. Còn DN của Việt Nam lại chỉ chiếm thị phần tương đối nhỏ và thường chỉ đáp ứng được các công đoạn đơn giản trong cả chuỗi cung ứng logistics.

PV: Có một thực tế là, chi phí logistics ở Việt Nam được đánh giá là khá cao so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Ông nhìn nhận ra sao về câu chuyện này?

Ông Trần Thanh Hải: Chi phí logistics ở mức cao cho thấy, tính hiệu quả trong các khâu logistics của chúng ta còn thấp. Nói cách khác là nguồn lực vẫn chưa được sử dụng một cách tiết kiệm và hiệu quả cao nhất. Ví dụ, cùng một container vận chuyển từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội, nếu đi bằng đường bộ thì chúng ta thấy sẽ phải đi qua rất nhiều trạm thu phí đường bộ, cầu… và nhiều chi phí ẩn mà DN không tiện kê khai ra. Người ta đã thống kê 1 container đưa từ TP Hồ Chí Minh ra Hải Phòng có thể mất tới 4 triệu đồng cho các khoản phí. Trong khi đó, chi phí cho 1 container đưa từ Nhật Bản về đến Hải Phòng có thể chỉ mất vài chục USD. Sự chênh lệch quá lớn làm khó cho doanh nghiệp.

Và còn câu chuyện nữa là vì chúng ta hiện chưa sử dụng được phương tiện đường biển, trong khi chúng ta có bờ biển rất dài, nhưng vận tải biển kém hiệu quả nên buộc phải dùng đường bộ. Mà vận chuyển bằng đường bộ thì chi phí phải cao hơn. Những điều này lý giải vì sao chi phí logistics của chúng ta lại chiếm tỷ lệ cao trong GDP như vậy.

PV: Vậy chúng ta có thể kỳ vọng gì vào kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2025?

Ông Trần Thanh Hải: Lần đầu tiên có một văn bản định hướng chính sách cho ngành logistics. Như tên gọi của nó, kế hoạch này bao gồm các giải pháp ngắn hạn và chung hạn nhằm góp phần cải thiện ngành logistics trong thời gian 7-8 năm sắp tới. Các hành động này sẽ tập trung vào một số khía cạnh, thứ nhất là khung pháp lý, thể chế, hoàn thiện cơ chế quản lý Nhà nước đối với ngành logistics và xây dựng khung chính sách hỗ trợ ngành logistics. Ngành Logistics khung pháp luật để hướng dẫn hoạt động logistics đi đúng các khuôn khổ luật pháp. Thứ hai là cơ sở hạ tầng của ngành giao thông vận tải như cầu đường, nhà ga, bến cảng cho đến các cảng cạn và kho hải quan, rồi đến các trung tâm logistics… Và thứ ba là mục tiêu nâng cao năng lực của các DN cung cấp dịch vụ.

buoc dot pha cho logistics

Như chúng ta đã biết, các DN logistics Việt Nam hiện nay quy mô nhỏ, kinh nghiệm hoạt động ít, sự cọ sát trên trường quốc tế chưa nhiều, chủ yếu hoạt động tại thị trường Việt Nam và hầu hết chỉ là thầu phụ cho các DN nước ngoài. Vì vậy, việc hỗ trợ nâng cao năng lực, giúp DN logistics Việt Nam lớn lên, bắt kịp với tiến trình hội nhập và các hoạt động xuất nhập khẩu là yếu tố rất quan trọng. Họ sẽ chỉ cần tập trung vào xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường và nâng cao chất lượng sản phẩm, còn toàn bộ những khâu đưa nguyên vật liệu cho DN sản xuất, phân phối sản phẩm đến các đối tác hoặc ra thị trường thì để cho các DN cung cấp dịch vụ logistics, vốn là những người chuyên nghiệp trong lĩnh vực này thực hiện.

Một vấn đề nữa trong kế hoạch hành động là chú trọng vào công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành logistics, đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để các DN thấy được rõ vai trò của logistics. Tập trung xây dựng những DN logistics lớn, giữ vai trò đầu tàu để kéo cả ngành cùng phát triển, đồng thời xây dựng những trung tâm logistics cấp khu vực và quốc tế để nâng cao khả năng kết nối giữa DN Việt Nam và thế giới là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của kế hoạch này.

PV: Số lượng DN logistics hiện có khoảng 1.300-1.500, nhưng tỷ lệ DN nội địa lại chiếm rất ít. Vậy đề án này sẽ tập trung vào những điểm nào để DN nội địa nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy được thế mạnh của mình để tạo cán cân với DN FDI?

Ông Trần Thanh Hải: Nếu nói về số lượng thì DN logistics trong nước chiếm đa số, DN logistics nước ngoài chỉ chiếm số nhỏ. Nhưng xét về năng lực thì DN logistics chiếm tỉ trọng lớn, chẳng hạn xét về doanh thu, lưu lượng hàng hóa vận chuyển…

Trong kế hoạch hành động có đề cập đến việc nâng cao năng lực, chú trọng bồi dưỡng để giúp các DN Việt Nam có thể phát triển với tốc độ nhanh nhất. Nhưng rõ ràng, hiện nay chúng ta sẽ thấy không thể có chuyện Nhà nước hỗ trợ bằng tiền được, bởi môi trường cạnh tranh không cho phép và Nhà nước cũng không có ngân sách để làm việc đó. Cái hỗ trợ ở đây chủ yếu thông qua các vấn đề về nhận thức, đào tạo như tổ chức các chương trình nâng cao nhận thức về logistics cho các DN xuất nhập khẩu để có sự phối kết hợp chặt chẽ với các DN logistics trong nước, tạo nguồn hàng cho các DN logistics Việt Nam. Hay là tổ chức các hoạt động về xúc tiến thương mại để kết nối với các nhà cung cấp dịch vụ ở nước ngoài như các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia như chúng ta vẫn làm với các ngành hàng cụ thể.

buoc dot pha cho logistics
Bốc xếp hàng hóa ở cảng Hải Phòng

Bên cạnh đó, việc đối thoại thường xuyên với các DN cũng là điều hết sức quan trọng. Cho đến nay, Bộ Công Thương cũng đã tổ chức 4 diễn đàn thường xuyên về logistics hằng năm tạo cầu nối giữa cơ quan quản lý với các DN, gồm cả DN dịch vụ logistics và DN xuất nhập khẩu, qua đó có đối thoại 3 bên để có thể hỗ trợ cho các DN logistics có nguồn hàng và những điều kiện khác để phát triển.

PV: Vậy làm sao để logistics Việt Nam có thể liên kết với logistics nước ngoài?

Ông Trần Thanh Hải: Có một thực tế là những DN có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất ở Việt Nam thì thông thường họ đã có một hệ thống theo công ty mẹ hoặc toàn cầu. Công ty mẹ đã lựa chọn nhà cung cấp logistics nào thì hệ thống đó sẽ đi xuyên suốt qua các nước. Trong trường hợp này thì DN Việt Nam sẽ khó chen chân vào hoặc chỉ có thể làm thầu phụ.

Hiện nay đã có những DN Việt Nam thắng thầu cho các DN có vốn đầu tư nước ngoài ngay tại Việt Nam. Nhưng điều đó chỉ có thể đạt được sau một quá trình xây dựng chất lượng, thương hiệu, khẳng định sự tin tưởng đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Điều này đòi hỏi sự làm ăn rất nghiêm túc của các DN logistics Việt Nam.

PV: Ông có lời khuyên gì cho các DN logistics?

Ông Trần Thanh Hải: Tôi cho rằng, đã đến lúc các DN cung cấp dịch vụ logistics phải chạy đua để lớn nhanh, lớn mạnh và đuổi kịp các DN nước ngoài. Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực, trình độ quản lý cũng như đào tạo đội ngũ nhân lực giỏi, chuyên nghiệp là những yếu tố sống còn để cạnh tranh trực tiếp với các DN nước ngoài và nếu không thể cạnh tranh sẽ không thể tiếp tục tồn tại.

Nhưng với tinh thần “người Việt Nam dùng dịch vụ Việt Nam”, ưu tiên hơn sử dụng dịch vụ của DN logistics Việt Nam sẽ giúp các DN này có cơ hội cải thiện, nâng mình lên, cải thiện chi phí, đưa hàng đến đích nhanh và hiệu quả hơn!

PV: Xin cảm ơn ông!

Phạm Hải

Giá vàng

DOJI Mua vào Bán ra
AVPL/SJC HN 82,500 84,500
AVPL/SJC HCM 82,500 84,500
AVPL/SJC ĐN 83,000 85,000
Nguyên liệu 9999 - HN 81,900 82,200
Nguyên liệu 999 - HN 81,800 82,100
AVPL/SJC Cần Thơ 82,500 84,500
Cập nhật: 11/10/2024 03:00
PNJ Mua vào Bán ra
TPHCM - PNJ 81.800 82.900
TPHCM - SJC 82.500 84.500
Hà Nội - PNJ 81.800 82.900
Hà Nội - SJC 82.500 84.500
Đà Nẵng - PNJ 81.800 82.900
Đà Nẵng - SJC 82.500 84.500
Miền Tây - PNJ 81.800 82.900
Miền Tây - SJC 82.500 84.500
Giá vàng nữ trang - PNJ 81.800 82.900
Giá vàng nữ trang - SJC 82.500 84.500
Giá vàng nữ trang - Đông Nam Bộ PNJ 81.800
Giá vàng nữ trang - SJC 82.500 84.500
Giá vàng nữ trang - Giá vàng nữ trang Nhẫn Trơn PNJ 999.9 81.800
Giá vàng nữ trang - Vàng nữ trang 999.9 81.600 82.400
Giá vàng nữ trang - Vàng nữ trang 999 81.520 82.320
Giá vàng nữ trang - Vàng nữ trang 99 80.680 81.680
Giá vàng nữ trang - Vàng 916 (22K) 75.080 75.580
Giá vàng nữ trang - Vàng 750 (18K) 60.550 61.950
Giá vàng nữ trang - Vàng 680 (16.3K) 54.780 56.180
Giá vàng nữ trang - Vàng 650 (15.6K) 52.310 53.710
Giá vàng nữ trang - Vàng 610 (14.6K) 49.010 50.410
Giá vàng nữ trang - Vàng 585 (14K) 46.950 48.350
Giá vàng nữ trang - Vàng 416 (10K) 33.030 34.430
Giá vàng nữ trang - Vàng 375 (9K) 29.650 31.050
Giá vàng nữ trang - Vàng 333 (8K) 25.940 27.340
Cập nhật: 11/10/2024 03:00
AJC Mua vào Bán ra
Trang sức 99.99 8,110 8,290
Trang sức 99.9 8,100 8,280
NL 99.99 8,150
Nhẫn tròn k ép vỉ T.Bình 8,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 8,200 8,300
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 8,200 8,310
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 8,200 8,300
Miếng SJC Thái Bình 8,250 8,450
Miếng SJC Nghệ An 8,250 8,450
Miếng SJC Hà Nội 8,250 8,450
Cập nhật: 11/10/2024 03:00

Tỉ giá

Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng VCB
AUD 16,275.96 16,440.37 16,968.38
CAD 17,664.79 17,843.22 18,416.29
CHF 28,151.14 28,435.49 29,348.75
CNY 3,423.97 3,458.56 3,569.63
DKK - 3,578.80 3,715.98
EUR 26,493.84 26,761.45 27,947.50
GBP 31,653.62 31,973.36 33,000.24
HKD 3,116.19 3,147.67 3,248.76
INR - 295.17 306.98
JPY 160.86 162.48 170.22
KRW 15.93 17.70 19.20
KWD - 80,928.93 84,167.28
MYR - 5,730.57 5,855.76
NOK - 2,259.77 2,355.79
RUB - 243.80 269.90
SAR - 6,604.07 6,868.33
SEK - 2,341.77 2,441.28
SGD 18,535.45 18,722.68 19,323.99
THB 654.69 727.44 755.32
USD 24,640.00 24,670.00 25,030.00
Cập nhật: 11/10/2024 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 24,660.00 24,670.00 25,010.00
EUR 26,641.00 26,748.00 27,867.00
GBP 31,850.00 31,978.00 32,969.00
HKD 3,131.00 3,144.00 3,249.00
CHF 28,316.00 28,430.00 29,322.00
JPY 162.57 163.22 170.66
AUD 16,373.00 16,439.00 16,948.00
SGD 18,661.00 18,736.00 19,287.00
THB 722.00 725.00 757.00
CAD 17,779.00 17,850.00 18,388.00
NZD 14,832.00 15,336.00
KRW 17.64 19.46
Cập nhật: 11/10/2024 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 24670 24670 25020
AUD 16348 16448 17018
CAD 17741 17841 18393
CHF 28490 28520 29313
CNY 0 3475.7 0
CZK 0 1028 0
DKK 0 3644 0
EUR 26706 26806 27681
GBP 31985 32035 33137
HKD 0 3180 0
JPY 163.87 164.37 170.88
KHR 0 6.032 0
KRW 0 18.1 0
LAK 0 1.0501 0
MYR 0 6104 0
NOK 0 2300 0
NZD 0 14893 0
PHP 0 420 0
SEK 0 2395 0
SGD 18612 18742 19473
THB 0 684.9 0
TWD 0 768 0
XAU 8250000 8250000 8450000
XBJ 7700000 7700000 8100000
Cập nhật: 11/10/2024 03:00